nghiên cứu - TRAO ĐỔI
nghiên cứu - TRAO ĐỔI

DẠY DÂN CA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM ÂM NHẠC KHOA NGHỆ THUẬT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Dân ca Việt Nam rất phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều vùng miền, nhiều tộc người trên khắp đất nước. Mỗi tộc người đều có một làn điệu dân ca mang bản sắc riêng, một nét độc đáo riêng về giai điệu, hình thức diễn xướng… Tìm hiểu, học hát dân ca của các dân tộc thiểu số để càng thêm yêu mến và đoàn kết dân tộc là điều cần thiết. Thế nhưng, ngày nay, học sinh – sinh viên lại ít quan tâm tới dân ca Việt Nam nói chung và dân ca các tộc người thiểu số nói riêng. Đây là những băn khoăn mà bài viết muốn đề cập đến.

Ths. Bùi Đình Thọ

Khoa Nghệ thuật, Trường ĐHSP Hà Nội

Email: buidinhthospnt@gmail. com


1. Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có nền văn hóa lâu đời. Mỗi một tộc người đều có những làn điệu dân ca độc đáo, mang bản sắc văn hóa riêng của mình góp phần vào vườn hoa muôn sắc của dân ca Việt nam. Nghệ thuật gìn giữ, bảo tồn và phát triển dân ca từ ngàn xưa đã trở thành nét văn hóa đặc biệt của con người Việt Nam. Đây là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc đồng thời nó cũng là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Trên con đường hiện đại hóa đất nước, việc bảo tồn, phát huy một cách trân trọng những di sản văn hóa truyền thống thiêng liêng của dân tộc nhằm mục đích “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” như tinh thần của hội nghị lần thứ V của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu.

Trong kho tàng âm nhạc dân gian các tộc người thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, dân ca chiếm một vị trí đáng kể và gắn liền với sinh hoạt của cộng đồng. Dân ca như hơi thở của con người, không chỉ quen thuộc, mà còn gắn bó hàng ngày với cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Điều đặc biệt ở đây là nó nằm trong tâm thức, trong máu thịt của mỗi con người. Do cùng có chung một mặt bằng xuất phát từ phương pháp canh tác lúa rẫy và tín ngưỡng đa thần, nên ít nhiều dân ca ở mỗi tộc người ngoài những nét riêng thì đều có những điểm tương đồng. Tuy nhiên, trước những biến động của xã hội trong những năm qua, đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều thay đổi, những làn điệu dân ca quen thuộc ngày càng mai một, một bộ phận thế hệ trẻ là con em dân tộc bản địa ngày càng bị cuốn hút bởi những luồng văn hóa ngoại lai tác động, lãng quên đi những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình đang là nỗi lo lắng, trăn trở của toàn xã hội, đặc biệt là những người làm công tác văn hóa –giáo dục. Chính vì vậy, việc giáo dục nghệ thuật, giáo dục giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ, trong đó có học sinh, sinh viên là một trong những hướng đi hết sức đúng đắn cần phải được tô đậm và là nhiệm vụ cấp bách mà các bộ, ngành liên quan đang hết sức chú trọng trong thời gian gần đây.

Hiện nay tại các trường đào tạo giáo viên sư phạm Âm nhạc hầu như chỉ dạy dân ca người Việt cho sinh viên sư phạm Âm nhạc. Qua khảo sát nhanh, tôi thấy chương trình dạy môn hát dân ca tại khoa Nghệ thuật trường ĐHSP Hà Nội cũng chỉ dạy hát dân ca người Việt, mà trường ĐHSP Hà nội là một trong những trường đào tạo sư phạm đầu ngành trong cả nước, các sinh viên đến học tập từ khắp mọi miền và đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm số lượng không nhỏ. Phần lớn sinh viên sư phạm âm nhạc sau khi tốt nghiệp trở về công tác giảng dạy tại các trường phổ thông tại địa phương của mình và là người truyền dạy trực tiếp một số bài dân ca các dân tộc thiểu số có trong chương trình môn học ở các bậc học cho học sinh, ngoài ra còn truyền dạy một số bài dân ca đặc trưng từng vùng miền, của dân tộc mình. Trong khi đó ở các cơ sở đào tạo sư phạm Âm nhạc không truyền dạy các bài dân ca các dân tộc thiểu số, điều này khiến sinh viên ra trường không đáp ứng hoặc khó thích ứng được với công việc. Đây là những bất cập cần phải điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên sư phạm Âm nhạc.

2. Nội dung nghiên cứu

2. 1. Xây dựng chương trình và đưa dân ca các dân tộc thiểu số vào giảng dạy cho sinh viên sư phạm Âm nhạc

2. 1. 1. Một số thể loại dân ca tiêu biểu của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc:

- Hát ru:

Là những điệu hát chuyên dùng vào việc ru trẻ được gọi chung là “hát ru”. Đặc trưng phổ biến của những điệu hát này êm ả, chậm rãi, dàn trải và thường có những tiếng đưa hơi. Tuy nhiên cũng có thể gặp những bài hát ru hơi nhanh hoặc tiết tấu hơi nhún nhảy. Âm điệu hát ru khá phong phú bởi hát ru của mỗi dân tộc lại có âm điệu riêng, thậm chí cùng một tộc nhưng ở những địa phương khác nhau lại có những điệu ru mang âm hưởng khác nhau. Những bài hát ru mang nội dung hiện thực xã hội, kể chuyện con nghe bằng những hình ảnh gần gũi tuổi thơ giai điệu dịu êm ngọt ngào, lời ca giản dị từng tiếng ru em ngủ. Những bài hát ru nêu cao ý thức trẻ thơ về cuộc sống lao động, tình mẹ yêu con, công cha nghĩa mẹ, con mau lớn, yêu mẹ thương cha. Vì quê hương tươi đẹp, vì tình cảm mẹ cha hãy ngoan ngủ nhiều, ngủ yên con nhé để mẹ cha chung tay lao động dựng xây, bảo vệ bản mường, nuôi con lớn khôn. Những lời ru ngọt ngào đằm thắm, nhắn gửi bé thơ như nhắc nhở cộng đồng mọi người hãy vì tương lai con trẻ, hạnh phú gia đình, tình yêu quê hương xây dựng bản mường. Từng lời ru không chỉ nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ trong sáng, còn ru ta, ru đời sống sao cho xứng làm người. Có thể kể ra một số bài hát ru tiêu biểu của các dân tộc như: Ú luk nón (hát ru Thái), Khống mi nhủa (ru con Mèo), Ru ún (Mường)…

- Đồng dao:

Nối tiếp các câu hát ru đầy giá trị nhân văn mà mỗi dân tộc dành cho trẻ nhỏ là các bài hát đồng dao. Đây là những bài hát có kết hợp với trò chơi hoặc múa do trẻ tự thực hành diễn xướng.

Đồng dao cũng có mặt ở các dân tộc, đâu có trẻ con ở đó sẽ có đồng dao. Thông qua câu hát, trò chơi đồng dao trẻ học được nhiều thứ để dần hoàn thiện nhân cách. Nét nổi bật trong hát đồng dao là: âm điệu mộc mạc đơn giản gần với hát nói, nhịp phách rõ ráng, tiết tấu có chu kỳ, thành phần âm ít (3 hoặc 4 âm); lời ca phổ biến với thể thơ 3 từ, 4 từ, 5 từ; nội dung phản ánh những nhận biết trong sáng của trẻ về thế giới xung quanh, về tình cảm gia đình, bạn bè, biết phân biệt tốt xấu, biết chia sẻ ngọt bùi với những người xung quanh…; còn trò chơi giúp trẻ rèn luyện sức khỏe, sự khéo léo của tay chân, lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết … Một số bài đồng dao tiêu biểu như: cùm nụm cùm liệu, Tum tum tảu tảu… (đồng dao Thái).

- Hát giao duyên:

Hát giao duyên có mặt ở tất cả các dân tộc Việt Nam với các tên gọi khác nhau như: Ví, Túm (Mường); Sli, Lượn (Tày Nùng); Khắp báo sao (Thái) v. v… Đây là lối hát của thanh niên nam nữ dùng để bày tỏ cảm xúc với nhau, tìm hiểu nhau để tiến tới hôn nhân. Hình thức ca hát là đối đáp nam – nữ. Nội dung đề cập đến tình yêu nam nữ, sự gắn bó thủy chung cũng như sự hiểu biết về cuộc sống về công việc làm ăn của giới trẻ. Âm nhạc phát triển, phong phú với nhiều làn điệu khác nhau, giàu sắc thái trữ tình. Đây là thể loại có số lượng bài bản phong phú và có chất lượng nghệ thuật cao trong dân ca của các tộc người.

- Tiếng hát lao động

Tiếng hát lao động các dân tộc là những bài ca mô tả cuộc sống như những trang ký sự quá trình phát triển quê hương dân tộc. Tiếng hát này có phần mô tả riêng về công việc lao động, lại có những bài lẫn trong hát ru, giao duyên, mo then. Dân ca người Kinh sưu tầm nhiều loại hát lao động riêng như hò Đò dọc, Đò ngang, Dệt vải, Quay tơ, Kéo lưới, Kéo chài, Hò hái củi, Hò giã gạo. Dân ca các dân tộc, những bài hát mô tả công việc, có thể sưu tầm chưa đủ, nhưng tiếng hát lao động ghi lại hướng phát triển xã hội, tình yêu cuộc sống. Dân ca các dân tộc thể hiện dưới nhiều hình thức, ngợi ca con người với những kỳ tích xây dựng quê hương, bản Mường.

2. 1. 2. Các tiêu chí xây dựng chương trình đưa dân ca các tộc người miền núi phía Bắc vào giảng dạy cho sinh viên sư phạm Âm nhạc:

Hiểu rõ được tầm quan trọng của môn hát dân ca trong giáo dục sinh viên sư phạm Âm nhạc và đáp ứng được nhu cầu học đi đôi với hành, chúng tôi thấy việc đầu tiên cần có sự đổi mới nội dung chương trình giảng dạy môn hát dân ca.

- Thứ nhất: Cần quan tâm đến các bài dân ca được giới thiệu trong chương trình môn hát - nhạc ở các hệ đào tạo phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) để đưa vào chương trình. Bởi đây là các bài mà sau này giáo sinh ra trường sẽ về giảng dạy cho các em học sinh ở hệ văn hóa phổ thông.

- Thứ hai: Quan tâm đến việc mở rộng kiến thức, vốn bài dân ca cũng như nâng cao sự cảm nhận phong cách dân ca các vùng miền, các tộc người tiêu biểu ở Việt Nam cho sinh viên thông qua việc dạy hát dân ca.

- Thứ ba: Việc lựa chọn các bài dân ca đưa vào chương trình phải là những bài có giai điệu hay, có âm vực phù hợp; đảm bảo tính vừa sức với trình độ sinh viên không chuyên nhạc (không dễ quá, không khó quá); phù hợp với việc phân phối thời gian của tiết học; Lời ca có giá trị giáo dục thẩm mỹ, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh cho sinh viên, phản ánh được những nét cơ bản về con người, về cuộc sống lao động cũng như những nét văn hóa đặc trưng của từng vùng miền, dân tộc.

- Thứ tư: Những bài hát đưa vào chương trình phải có giá trị sử dụng cao, mang tính tiêu biểu để sau này ra trường, giáo sinh có thể vận dụng trong việc dạy học và tổ chức các hoạt động nội khóa, ngoại khóa, phong trào văn hóa văn nghệ ở nhà trường cũng như ở địa phương.

2. 2. Những bài dân ca được lựa chọn đưa vào chương trình giảng dạy

Từ những tiêu chí trên, tôi mạnh dạn lựa chọn các bài dân ca tiêu biểu của các tộc người miền núi phía Bắc như sau:

- Noọng nòn (ru con dân ca Tày)

- Xuân Thâng (Xuân đến-hát Then dân ca Tày)

- Khuê nông lê (Chặt gỗ đóng thuyền-dân ca Côống khao)

- Ga phà té le (Gà gáy te te-dân ca Côống khao)

- Bài ca hạnh phúc (dân ca Xã)

- Num num, tảu tảu (Đi đi, lại lại-đồng dao Thái)

- Khúy choong chá (Đánh đu-đồng dao Thái)

- Tói chúc chắn (Gõ ve sầu-đồng dao Thái)

- Lả nón dớ (Ngủ đi em-hát ru Thái)

- Hát Inh lả (dân ca Thái)

- Không mi nhủa (hát ru con-dân ca Mèo)

- Tiếng sáo xa lá (dân ca Mèo)

- H’chà mủa mái (Nhớ em yêu-dân ca mèo)

- Đu đu, điềng điềng (Đồng dao-dân ca Thổ)

- Ru ún (hát ru - Mường)…

2. 3. Một số phương pháp dạy hát dân ca các dân tộc miền núi phía Bắc

2. 3. 1. Dạy hát theo phương pháp truyền khẩu và kí âm trên bản phổ:

Phương pháp dạy hát dân ca dựa trên bản phổ sẽ giúp cho sinh viên dễ thuộc bài, nắm vững khung sườn của bài hát. Khi đã có các nốt nhạc, sinh viên có thể tự mình tập đọc nhạc, chuẩn bị trước bài ở nhà. Tuy nhiên nếu đến giờ học, giáo viên lại dạy hát hoàn toàn giống như bản phổ sẽ dẫn đến tình trạng bài hát khô cứng, phong cách dân ca khó hiện ra, thậm chí hát không ra phong cách, hát dân ca như ca khúc mới.

Phương pháp truyền khẩu, giáo viên chỉ chép phần lời ca lên bảng kết hợp với vài ký hiệu chỉ nhịp nội, nhịp ngoại. Với văn bản như vậy, sinh viên không thể chuẩn bị trước bài ở nhà bằng cách tập đọc nhạc, có chăng chỉ là nghe trước bài dân ca đó trong trường hợp có băng đĩa. Việc học bài dân ca đó hoàn toàn phụ thuộc vào giờ học trên lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Cách học này tuy thuộc bài hát chậm hơn nhưng hát đúng phong cách, gần gũi với hơi thở dân ca không bị gò vào những nét giai điệu khô cứng.

Như vậy, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó nhưng về cơ bản phương pháp giảng dạy theo văn bản phù hợp hơn với việc dạy ca khúc mới còn phương pháp truyền khẩu phù hợp với dạy hát dân ca. Để giờ học dân ca đạt được hiệu quả tốt, đúng phong cách mà vẫn đảm bảo được tiến độ của chương trình, theo chúng tôi cần kết hợp một cách hợp lý giữa phương pháp truyền khẩu với phương pháp dùng bản phổ. Cụ thể là:

Trước buổi học, sinh viên phải chuẩn bị trước bài ở nhà như: tìm hiểu về nội dung, thể loại của bài hát, đọc nhạc và nghe băng đĩa nếu có để hình dung được phần nào diện mạo của bài dân ca. Vào giờ học, giảng viên giới thiệu những nội dung cần thiết trước khi học hát, chỉ ra những chỗ khó hát (quãng, âm luyến láy, cách phát âm thổ ngữ địa phương …) rồi sau đó dạy hát bằng phương pháp truyền khẩu. Giảng viên hát từng câu, sau đó sinh viên hát lại cho đến khi chính xác mới chuyển sang câu tiếp theo. Như vậy, nét giai điệu trên bản phổ giờ chỉ là cái khung đế sinh viên tựa vào đó cho dễ hát, dễ nhớ còn sự chuẩn xác dựa vào sự uốn nắn của người dạy.

2. 3. 2. Dạy hát dân ca thông qua phương thức diễn xướng

Một sự thật hiển nhiên, dân ca được bảo lưu theo phương thức truyền miệng. Sự tác động của toàn thể cộng đồng góp phần hoàn chỉnh, nâng cao nghệ thuật diễn xướng dân ca.

Nghệ thuật diễn xướng dân ca được sinh ra phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, môi trường sống. Các trò diễn dân gian, cách thức tổ chức hội làng, lề lối ca hát… đều xuất phát từ quan niệm cộng sinh, cộng cảm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người. Diễn xướng là sự liên kết, gắn bó tất cả mọi người tham gia, hình thành nên cộng đồng bền vững với ý thức cùng chung sống. Như vậy, diễn xướng mang tính nguyên hợp không phân tách, gồm hai thành tố cơ bản đặc hữu cùng tham gia theo dẫn giải, đó là:

- Diễn: Hành động xảy ra

- Xướng: Hát lên, ca lên.

Dân ca được sinh ra từ cuộc sống thường nhật của con người nên nó gắn bó chặt chẽ với các hoạt động thưc tiễn. Chẳng hạn, hát ru luôn gắn liền với các động tác ru trẻ ngủ (vỗ về, đung đưa, rung, lắc …tùy theo); hò gắn liền với động tác lao động (động tác chèo thuyền, động tác giã gạo, giã vôi, đắp nền …); hát giao duyên gắn với hoạt động vui chơi v. v… Tất cả đã làm nên phương thức diễn xướng dân ca đặc sắc cho mỗi thể loại.

Để sinh viên có thể học tốt và nắm bắt đúng tình thần của các làn điệu dân ca cũng như tạo hứng thú học tập cho sinh viên thì giảng viên nên sử dụng thêm phương pháp dạy hát thông qua phương thức diễn xướng. Cụ thể là:

- Khi dạy hát các bài hát giao duyên, ngoài việc dạy các em hát thuộc và chuẩn làn điệu, giáo viên nên xếp các sinh viên nam và nữ thành 2 đội hình (bên nam, bên nữ) để hát đối đáp với nhau. Hình thức ca hát không nên ngồi cố định một chỗ mà có thể đứng hoặc di chuyển để buổi học hát được thoải mái hơn.

- Khi dạy sinh viên các bài hò lao động có xướng - xô, sau khi thuộc bài, ở bước củng cố bài học, giảng viên nên cho sinh viên thay đổi nhau hát phần xướng - xô để vừa tạo không khí vui vẻ, vừa giúp các em nắm vững thể loại thông qua cách trình diễn dân gian.

- Khi dạy các bài hát đồng dao, cùng với việc học hát, sinh viên cần được biết đến các trò chơi đi kèm. Nói cách khác, sinh viên cũng phải vừa học hát vừa kết hợp với chơi trò chơi. Chỉ khi nào giảng viên giúp sinh viên hòa nhập tâm hồn vào làn điệu dân ca và không khí của trò chơi đó thì buổi học mới có kết quả cao v. v…

Như vậy, với phương pháp dạy hát thông qua phương thức diễn xướng sẽ tạo nên sự tổng hòa của nhiều thành tố: giai điệu, lời ca, lối hát, môi trường xung quanh và đồng nhất giữa hát và hành động diễn. Đây chính là cơ sở để các sinh viên ra trường sau này có thể áp dụng vào việc giảng dạy nội dung dân ca ở bậc học TH và THCS.

2. 4. Tổ chức cho sinh viên đi thực tế âm nhạc dân gian, nghe các chuyên gia nói chuyện âm nhạc

Qua hoạt động này giúp cho sinh viên có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu về âm nhạc các vùng miền, cách thức tổ chức, tham gia biểu diễn, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật. Nghe các chuyên gia nói về âm nhạc để từ đó có cái nhìn thực tế, đúng đắn hơn trong quá trình học tập, rèn luyện. Để sinh viên có thể dạy tốt những tiết dạy dân ca trong tương lai thì trong chương trình không thể thiếu những kiến thức về dân ca một cách toàn diện và đầy đủ hơn nhằm đạt được những yêu cầu của nhiệm vụ dạy âm nhạc ở các cơ sở sau này. Điều cần thiết đó là sự hiểu biết dân ca, nét sinh hoạt vùng miền của các thể loại dân ca, chính những điều này sẽ làm cho sinh viên tự tin hơn khi hướng dẫn học sinh học các bài dân ca; khi giới thiệu nét đặc trưng văn hóa vùng miền hay khi tổ chức hoạt động ngoại khóa ở các cơ sở mà các em làm việc sau khi tốt nghiệp. Song, nếu chỉ dừng lại ở việc dạy và học dân ca tại các trường sư phạm thì mới chỉ dạy cho sinh viên được phần cốt lõi. Thiết nghĩ nhà trường nên tổ chức cho giảng viên và các em sinh viên đi thực tế tại các địa phương. Đây là một trong những giải pháp giúp giảng viên và sinh viên nâng cao được chất lượng dạy và học môn dân ca. Khi được trực tiếp điền dã ở các vùng miền, chứng kiến cuộc sống lao động của các tộc người, được gặp các nghệ nhân và nghe họ hát thì giảng viên và sinh viên mới thẩm thấu được cái hồn của bài dân ca bản địa đó. Đây là giải pháp giúp cho giảng viên có “thực tế” hơn khi giảng dạy bài dân ca cũng như khi giới thiệu về vùng miền hay phong tục tập quán của tộc người nào đó. Ngoài ra, khi điền dã tiếp xúc với nghệ nhân, sinh viên còn được tham dự các lễ hội âm nhạc dân gian của vùng miền. Các em sẽ thấy được sự đa dạng và phong phú trong âm nhạc dân gian của các tộc người tại các vùng miền mà thời lượng giảng dạy về âm nhạc dân gian trong nhà trường không đủ để cung cấp những kiến thức đó.

3. Kết luận

Dân ca là tài sản vô giá của nhân dân, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong bối cảnh xã hội đương đại là một trách nhiệm rất nặng nề đối với mỗi chúng ta. Và, một trong những biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp đó là đưa dân ca vào trường học. Đặc biệt, những người làm công tác giảng dạy dân ca phải thấy được rõ trách nhiệm của mình trong việc làm thế nào để đưa dân ca vào trường học một cách hiệu quả nhất, đáp ứng được mục tiêu của môn học. Đây chính là vấn đề mà đề tài muốn đề cập đến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên sư phạm Âm nhạc. Trang bị cho sinh viên những kiến thức, khả năng thể hiện các làn điệu dân ca để khi ra trường sinh viên khoa Nghệ thuật sẽ làm tốt nhiệm vụ giáo dục và dạy học môn Âm nhạc ở các trường phổ thông trên cả nước.

Bảo tồn và phát huy là trách nhiệm của mọi người dân Việt Nam. Chúng ta cần phải làm cho dân ca trở thành niềm tự hào, là một thành tố quan trọng trong cuộc sống. Dân ca được giáo dục, tuyên truyền rộng rãi tới mọi tầng lớp nhân dân. Giáo dục dân ca trong nhà trường là một biện pháp thiết thực góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Dạy và học dân ca trong trường cũng là tiêu chí hướng tới giáo dục con người toàn diện, trang bị cho các em hành tranh vững bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển. Qua những làn điệu dân ca, tâm hồn các em phong phú hơn, bồi đắp cho các em tình đoàn kết dân tộc và tình yêu quê hương đất nước.

 

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2008), Hát dân ca, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

2. Phạm Minh Khang, Bảo tồn và phát huy dân ca trong giáo dục âm nhạc ở trường phổ thông.

3. Dân ca Việt Nam (2001), Nhà xuất bản Âm nhạc, Hà Nội.

4. Kỷ yếu hội thảo (2011), 10 năm công tác đào tạo giáo viên Âm nhạc, Mỹ thuật của trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

5. Tú Ngọc (1994), Dân ca người Việt, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.         

6. Phạm Phúc Minh (1994), Tìm hiểu dân ca Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

7. Hoàng Lân - Văn Nhân (1995), Giáo trình giảng dạy âm nhạc, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.

8. Bùi Huyền Nga (2012), Cấu trúc dân ca người Việt, Nhà xuất bản Lao động.

9. Dân ca Việt Nam (2011), Nxb Văn Hóa, Hà Nội.

10. Dân ca Quan họ Bắc Ninh (1974), Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

11. Nông Thị Nhình, Âm nhạc Dân gian các dân tộc Tày Nùng Dao (2000), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

12. Tú Ngọc (1994), Dân ca người Việt, Nxb Âm nhạc, Hà Nội. 

Publish: 6/15/2017 - Views: 466 - Lastest update: 6/15/2017 6:16:41 PM
Related